Duloxetine

Duloxetine là thuốc được sử dụng để điều trị trầm cảm và rối loạn lo âu tổng quát (GAD; lo lắng quá mức và căng thẳng làm gián đoạn cuộc sống hàng ngày và kéo dài trong 6 tháng hoặc lâu hơn).

Duloxetine là thuốc gì?

Duloxetine được bán dưới tên thương hiệu Cymbalta trong số những người khác, là một loại thuốc được sử dụng để điều trị rối loạn trầm cảm nặng, rối loạn lo âu tổng quát, đau cơ xơ hóa và đau thần kinh. Nó được dùng bằng đường uống.

Duloxetine
Duloxetine

Cơ chế hoạt động

Duloxetine ức chế sự tái hấp thu serotonin và norepinephrine (NE) trong hệ thần kinh trung ương. Duloxetine làm tăng dopamine (DA) đặc biệt ở vỏ não trước, nơi có ít máy bơm tái hấp thu DA, thông qua việc ức chế máy bơm tái hấp thu NE (NET), được cho là trung gian làm trung gian tái hấp thu DA và NE. Tuy nhiên, Duloxetine không có ái lực đáng kể với các chất vận chuyển dopaminergic, cholinergic, histaminergic, opioid, glutamate và GABA, và do đó có thể được coi là chất ức chế tái hấp thu chọn lọc ở chất vận chuyển 5-HT và NE. Duloxetine trải qua quá trình chuyển hóa rộng rãi , nhưng các chất chuyển hóa tuần hoàn chính không đóng góp đáng kể vào hoạt tính dược lý.

Dược động học

Hấp thu

Duloxetine là axit không bền, và được bào chế với lớp phủ trong ruột để ngăn ngừa sự thoái hóa trong dạ dày. Duloxetine có sinh khả dụng đường uống tốt, trung bình 50% sau một liều 60 mg. Có độ trễ trung bình 2 giờ cho đến khi bắt đầu hấp thu với nồng độ tối đa trong huyết tương xảy ra khoảng 6 giờ sau khi dùng liều. Thức ăn không ảnh hưởng đến C max của duloxetine, nhưng làm chậm thời gian đạt nồng độ đỉnh từ 6 đến 10 giờ.

Phân bố

Duloxetine liên kết nhiều (> 90%) với protein trong huyết tương người, liên kết chủ yếu với albumin và α1-acid glycoprotein. Thể tích phân phối là 1640L.

Chuyển hóa

Duloxetine trải qua quá trình chuyển hóa chủ yếu ở gan qua hai isozyme cytochrome P450, CYP2D6 và CYP1A2. Các chất chuyển hóa lưu hành không có hoạt tính về mặt dược lý. Duloxetine là một chất ức chế CYP2D6 vừa phải.

Thải trừ

Dùng ở những đối tượng nam trẻ khỏe mạnh với liều từ 20–40 mg hai lần một ngày, có thời gian bán hủy là 12,5 giờ và dược động học của nó tương ứng với liều lượng trong phạm vi điều trị . Trạng thái ổn định thường đạt được sau 3 ngày. Chỉ một lượng nhỏ (<1%) duloxetine không đổi có trong nước tiểu và phần lớn liều dùng (khoảng 70%) xuất hiện trong nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa của duloxetine với khoảng 20% ​​thải trừ qua phân.

Hút thuốc có liên quan đến việc giảm nồng độ duloxetine.

Sử dụng y tế

  • Các ứng dụng chính của duloxetine là trong rối loạn trầm cảm nặng, rối loạn lo âu tổng quát, đau thần kinh , đau cơ xương mãn tính và đau cơ xơ hóa.
  • Duloxetine được Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ khuyên dùng như một chất đầu tay để điều trị bệnh thần kinh do hóa trị liệu, như một liệu pháp đầu tay cho chứng đau cơ xơ hóa khi có rối loạn tâm trạng bởi Hiệp hội Trị liệu Đau Liên ngành của Đức là khuyến nghị cấp B để điều trị bệnh thần kinh do đái tháo đường của Hiệp hội Thần kinh học Hoa Kỳ và là khuyến nghị cấp A ở một số bang bệnh thần kinh nhất định của Liên đoàn các hiệp hội thần kinh châu Âu.
  • Một đánh giá của Cochrane năm 2014 kết luận rằng duloxetine có lợi trong điều trị bệnh thần kinh do tiểu đường và đau cơ xơ hóa nhưng cần có nhiều nghiên cứu so sánh hơn với các loại thuốc khác. Tạp chí y khoa Pháp Prescrire kết luận rằng duloxetine không tốt hơn các chất có sẵn khác và có nguy cơ tác dụng phụ cao hơn.

Rối loạn trầm cảm nặng

Duloxetine đã được phê duyệt để điều trị trầm cảm nặng vào năm 2004. Trong khi duloxetine đã chứng minh sự cải thiện các triệu chứng liên quan đến trầm cảm so với giả dược , so sánh duloxetine với các thuốc chống trầm cảm khác ít thành công hơn.

Rối loạn lo âu tổng quát

Duloxetine hiệu quả hơn giả dược trong điều trị rối loạn lo âu tổng quát (GAD). Tuy nhiên, một đánh giá từ Biên niên sử về Y học Nội khoa liệt kê duloxetine trong số các phương pháp điều trị bằng thuốc đầu tiên, cùng với citalopram , escitalopram , sertraline , paroxetine và venlafaxine.

Bệnh thần kinh do tiểu đường

Duloxetine đã được phê duyệt để điều trị cơn đau liên quan đến bệnh thần kinh ngoại biên do tiểu đường (DPN), dựa trên kết quả khả quan của hai thử nghiệm lâm sàng. Cơn đau trung bình hàng ngày được đo bằng thang điểm 11 và điều trị bằng duloxetine làm giảm thêm 1–1,7 điểm đau so với giả dược. Giảm đau ít nhất 50% ở 40–45% bệnh nhân dùng duloxetine so với 20–22% bệnh nhân dùng giả dược. Đau giảm hơn 90%, ở 9–14% bệnh nhân dùng duloxetine so với 2–4% bệnh nhân dùng giả dược. Hầu hết các phản ứng đã đạt được trong hai tuần đầu tiên khi dùng thuốc. Duloxetine làm tăng nhẹ đường huyết lúc đói. Tuy nhiên, tác dụng này được coi là có “ý nghĩa lâm sàng tối thiểu”.

Đau cơ xơ hóa và đau mãn tính

  • Một đánh giá về duloxetine cho thấy nó làm giảm đau và mệt mỏi, đồng thời cải thiện hoạt động thể chất và tinh thần so với giả dược.
  • Mỹ Food and Drug Administration (FDA) đã phê duyệt thuốc để điều trị đau xơ cơ trong tháng Sáu năm 2008.
  • Nó có thể hữu ích cho các cơn đau mãn tính do viêm xương khớp.
  • Vào ngày 4 tháng 11 năm 2010, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt duloxetine để điều trị chứng đau cơ xương mãn tính, bao gồm cả khó chịu do viêm xương khớp và đau thắt lưng mãn tính.

Són tiểu căng thẳng

Duloxetine không nhận được sự chấp thuận của Hoa Kỳ đối với chứng tiểu không kiểm soát do căng thẳng trong bối cảnh lo ngại về nhiễm độc gan và các sự kiện tự tử; Tuy nhiên, nó đã được chấp thuận cho việc sử dụng này ở Anh , nơi nó được khuyên dùng như một loại thuốc bổ sung trong chứng tiểu không kiểm soát do căng thẳng thay vì phẫu thuật.

Chống chỉ định

Các chống chỉ định sau được nhà sản xuất liệt kê:

  • Quá mẫn: duloxetine được chống chỉ định ở những bệnh nhân quá mẫn với duloxetine hoặc bất kỳ thành phần không hoạt động nào.
  • Thuốc ức chế monoamine oxidase (MAOIs): chống chỉ định sử dụng đồng thời ở bệnh nhân đang dùng MAOIs.
  • Tăng nhãn áp góc hẹp không kiểm soát : trong các thử nghiệm lâm sàng , sử dụng Cymbalta có liên quan đến tăng nguy cơ giãn đồng tử ( giãn đồng tử ); do đó, nên tránh sử dụng nó ở những bệnh nhân bị tăng nhãn áp góc hẹp không kiểm soát được , trong đó bệnh giãn đồng tử có thể gây ra tình trạng xấu đi đột ngột.
  • Hệ thống thần kinh trung ương (CNS) diễn xuất thuốc: cho những ảnh hưởng thần kinh trung ương chủ yếu của duloxetine, nó nên được sử dụng một cách thận trọng khi nó được thực hiện trong sự kết hợp với hoặc thay thế cho các loại thuốc tác dụng trực thuộc Trung ương khác, kể cả những người có một cơ chế tương tự như hành động.
  • Duloxetine và thioridazine không nên dùng đồng thời.

Ngoài ra, FDA đã báo cáo về các tương tác thuốc đe dọa tính mạng có thể xảy ra khi dùng đồng thời với triptan và các loại thuốc khác hoạt động trên con đường serotonin dẫn đến tăng nguy cơ hội chứng serotonin .

Tác động ngoại ý

  • Buồn nôn , buồn ngủ , mất ngủ và chóng mặt là những tác dụng phụ chính , được báo cáo bởi khoảng 10% đến 20% bệnh nhân.
  • Trong một thử nghiệm đối với chứng rối loạn trầm cảm nặng (MDD), các tác dụng ngoại ý cấp cứu trong điều trị được báo cáo phổ biến nhất ở những bệnh nhân được điều trị bằng duloxetine là buồn nôn (34,7%), khô miệng (22,7%), nhức đầu (20,0%) và chóng mặt (18,7%) , và ngoại trừ đau đầu , những triệu chứng này được báo cáo thường xuyên hơn đáng kể so với nhóm dùng giả dược. Trong một nghiên cứu dài hạn về bệnh nhân đau cơ xơ hóa dùng duloxetine, tần suất và loại tác dụng ngoại ý tương tự như được báo cáo trong thử nghiệm MDD ở trên. Các tác dụng phụ có xu hướng nhẹ đến trung bình và có xu hướng giảm cường độ theo thời gian.

Nguồn tham khảo: Duloxetine cập nhật ngày 12/05/2021: https://en.wikipedia.org/wiki/Duloxetine

This entry was posted in . Bookmark the permalink.