Riluzole

Riluzole là một chất đối kháng glutamate (thụ thể, glutamate) được sử dụng như một chất chống co giật (thuốc chống co giật) và để kéo dài thời gian sống sót của bệnh nhân bị xơ cứng teo cơ một bên. 

Riluzole là gì?

Riluzole được chỉ định để kéo dài sự sống hoặc thời gian thở máy cho bệnh nhân mắc bệnh xơ cứng teo cơ một bên (ALS).

Riluzole
Riluzole

 

Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng Riluzole kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân ALS. Tỷ lệ sống được xác định là những bệnh nhân còn sống, không phải đặt nội khí quản để thở máy và không mở khí quản.

Không có bằng chứng cho thấy Riluzole có tác dụng điều trị đối với chức năng vận động, chức năng phổi, rối loạn vận động, sức mạnh cơ bắp và các triệu chứng vận động. Riluzole đã không được chứng minh là có hiệu quả trong giai đoạn cuối của ALS.

Tính an toàn và hiệu quả của Riluzole mới chỉ được nghiên cứu trong ALS. Do đó, Riluzole không nên được sử dụng cho bệnh nhân mắc bất kỳ dạng bệnh thần kinh vận động nào khác.

Cơ chế hoạt động của Riluzole

Mặc dù cơ chế bệnh sinh của ALS chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, nhưng người ta cho rằng glutamate (chất dẫn truyền thần kinh kích thích chính trong hệ thần kinh trung ương) có vai trò gây chết tế bào trong căn bệnh này.

Riluzole được đề xuất để hoạt động bằng cách ức chế quá trình glutamate. Phương thức hoạt động không rõ ràng.

Đặc tính dược lực học

Nhóm dược lý: thuốc hệ thần kinh khác, mã ATC: N07XX02.

Riluzole, một thành viên của nhóm benzothiazole, được chỉ định để điều trị bệnh nhân mắc chứng xơ cứng teo cơ một bên (ALS). Riluzole kéo dài thời gian sống sót hoặc thời gian mở khí quản. Nó cũng bảo vệ thần kinh trong các mô hình thực nghiệm in vivo khác nhau về tổn thương tế bào thần kinh liên quan đến cơ chế gây độc kích thích. Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh của bệnh xơ cứng teo cơ một bên (ALS) vẫn chưa được biết, mặc dù một số giả thuyết đã được nâng cao. 

Một giả thuyết được đặt ra là các tế bào thần kinh vận động, dễ bị tổn thương do khuynh hướng di truyền hoặc các yếu tố môi trường, bị tổn thương do glutamate. Trong một số trường hợp ALS gia đình, enzyme superoxide dismutase được phát hiện là bị lỗi.

Đặc tính dược động học

Dược động học của riluzole đã được đánh giá ở những người tình nguyện nam khỏe mạnh sau khi uống một lần từ 25 đến 300 mg và sau khi uống nhiều liều từ 25 đến 100 mg hai lần.

Nồng độ thuốc trong huyết tương tăng tuyến tính với liều lượng và đặc điểm dược động học không phụ thuộc vào liều lượng.

Khi dùng nhiều liều (điều trị 10 ngày với 50mg riluzole 2 lần), riluzole không thay đổi tích lũy trong huyết tương khoảng 2 lần và trạng thái ổn định đạt được trong vòng chưa đầy 5 ngày.

Sự hấp thụ

Riluzole được hấp thu nhanh chóng sau khi uống với nồng độ tối đa trong huyết tương xảy ra trong vòng 60 đến 90 phút (C max = 173 ± 72 (sd) ng / ml). Khoảng 90% liều dùng được hấp thu và sinh khả dụng tuyệt đối là 60 ± 18%.

Tỷ lệ và mức độ hấp thu bị giảm khi dùng riluzole cùng với các bữa ăn giàu chất béo (giảm C max là 44%, giảm AUC là 17%).

Phân phối

Riluzole được phân phối rộng rãi khắp cơ thể và đã được chứng minh là có thể vượt qua hàng rào máu não. Thể tích phân phối của riluzole là khoảng 245 ± 69 L (3,4 L / kg). Riluzole liên kết với protein khoảng 97% và nó liên kết chủ yếu với albumin huyết thanh và lipoprotein.

Chuyển đổi sinh học

Riluzole không thay đổi là thành phần chính trong huyết tương và được chuyển hóa rộng rãi bởi cytochrome P450 và quá trình glucuronid hóa sau đó. Các nghiên cứu in vitro sử dụng các chế phẩm gan người đã chứng minh rằng cytochrome P450 1A2 là isoenzyme chính tham gia vào quá trình chuyển hóa riluzole. Các chất chuyển hóa được xác định trong nước tiểu là ba dẫn xuất phenolic, một dẫn xuất ureido và riluzole không thay đổi.

Con đường chuyển hóa chính của riluzole là quá trình oxy hóa ban đầu bởi cytochrome P450 1A2 tạo ra N-hydroxy-riluzole (RPR112512), chất chuyển hóa có hoạt tính chính của riluzole. Chất chuyển hóa này nhanh chóng liên kết với glucurono thành O- và N-glucuronid.

Loại bỏ

Thời gian bán thải từ 9 đến 15 giờ. Riluzole được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu.

Bài tiết tổng thể qua nước tiểu chiếm khoảng 90% liều dùng. Glucuronid chiếm hơn 85% các chất chuyển hóa trong nước tiểu. Chỉ 2% liều riluzole được phục hồi dưới dạng không đổi trong nước tiểu.

Sử dụng y tế của Riluzole

Riluzole được sử dụng để điều trị bệnh nhân mắc bệnh xơ cứng teo cơ một bên (ALS), còn được gọi là bệnh Lou Gehrig. Riluzole không phải là thuốc chữa ALS, nhưng nó có thể kéo dài thời gian sống sót cho bệnh nhân trong giai đoạn đầu của bệnh hoặc kéo dài thời gian cho đến khi cần mở khí quản (ống thở trong cổ họng).

Nguồn tham khảo:

This entry was posted in . Bookmark the permalink.